Vox: Vì sao Trung Quốc tiếp tục là khởi nguồn của đại dịch?

Ngay trong đêm giao thừa Tết Nguyên Đán 2020, các quan chức y tế Trung Quốc thừa nhận họ đang gặp một tình huống xấu, đồng thời, đưa ra cảnh báo ở cấp độ cao nhất trước vấn đề. Một loại virus gây viêm phổi hoàn toàn mới vừa được phát hiện ở miền Trung Trung Quốc. Số người bệnh tăng lên chóng mặt, với các triệu chứng ban đầu là ho và sốt, trước khi bệnh trở nặng hơn và gây tổn thương đến phổi. Một số ca thậm chí tử vong. Các chuyên gia y tế đặt tên cho căn bệnh gây ra bởi virus chủng mới này là COVID-19.

Trong quá trình đi tìm kiếm nguồn gốc của virus chết người này, giới chức quốc gia nhận thấy nơi có nguy cơ cao nhất: 1 khu chợ thực phẩm ở thành phố Vũ Hán. Trong tổng số 41 bệnh nhân đầu tiên mắc bệnh, 27 ca được cho là có liên quan đến khu chợ này. Dù chưa nắm trong tay đầy đủ các bằng chứng thuyết phục, song các quan chức địa phương đã ngay lập tức ra lệnh đóng cửa khu chợ. Có lẽ, họ nhận thấy mình đã từng chứng kiến điều tương tự.

Năm 2002, một chủng coronavirus khác là SARS bùng nổ và hoành hành trong nhiều tháng liền ở miền Nam Trung Quốc. Dịch bệnh lan ra 29 quốc gia, cướp đi mạng sống của gần 800 người. Đáng nói, nguồn gốc của SARS cũng được xác định xuất phát từ một khu chợ kiểu như vậy.

18 năm sau, một chủng virus khác đã bùng phát và được ghi nhận tại ít nhất 71 quốc gia, hơn 120 ngàn người nhiễm và hơn 4000 người đã chết. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao những khu chợ như thế này lại là nơi khởi phát virus và vì sao Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, một quốc gia được định vị là cường quốc, lại tiếp tục trở thành nơi “gieo rắc” virus chết người cho nhân loại?

Đầu tiên, cần phải biết rằng rất nhiều virus gây bệnh cho con người ban đầu xuất phát từ động vật. Một số chủng virus gây bệnh cúm có nguồn gốc từ gia cầm hoặc lợn. HIV/AIDS có nguồn gốc từ tinh tinh. Virus Ebola gây chết người được cho là đã truyền nhiễm từ dơi sang người. Và đối với COVID-19, các chuyên gia sau những cuộc điều tra ban đầu tin rằng chúng bắt nguồn từ dơi, sau đó truyền sang tê tê và lây sang người. Virus lây nhiễm từ loài này sang loài kia không phải chuyện hiếm, nhưng một virus gây chết người lây từ động vật sang người là điều rất khó xảy ra.

Chưa cần xét đến những đột biến di truyền, làm sao để cả 3 tác nhân dơi, tê tê và con người giao thoa tại một điểm để tạo điều kiện cho virus lây nhiễm đã là một việc khó. Nhưng tồn tại một nơi thuận lợi để việc tưởng chừng như không thể đó trở thành có thể: chợ Hoa Nam ở thành phố Vũ Hán. Trong tiếng Anh, những ngôi chợ như thế này gọi là “wet market”, mô tả việc bán thực phẩm tươi sống và có lẽ, những ngôi chợ thế này thường ẩm ướt.

Đây là nơi động vật sống bị giết mổ và bán trực tiếp cho người mua. Bên trong những khu chợ như thế này, động vật bị nhốt trong các lồng chồng lên nhau. Mọi chất lỏng từ con vật bên trên như máu, chất thải, mủ,…mọi thứ đều rơi xuống lồng bên dưới. Đó chính xác là con đường mà virus “nhảy cóc” từ loài này sang loài khác. Nếu con vật nào đó bị nhiễm virus tiếp xúc và được tiêu thụ bởi con người, người đó có khả năng sẽ bị nhiễm. Và nếu virus này lây sang cho người khác, dịch bệnh được hình thành. Chợ tươi sống kiểu này có mặt ở khắp nên trên thế giới, nhưng ở Trung Quốc, thị trường này đặc biệt tấp nập, chủ yếu nhờ vào việc cung cấp nhiều loài động vật khác nhau, kể cả động vật hoang dã. Động vật nhập về khu chợ này có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới, và mỗi một con vật đều có khả năng mang mầm bệnh.

Trên thực tế, lý do khiến cho tất cả những con vật này đều có mặt tại một khu chợ như Hoa Nam nằm ở 1 quyết định của chính phủ Trung Quốc được thực hiện từ nhiều thập kỷ trước. Vào những năm 1970, Trung Quốc rơi vào khủng hoảng. Nạn đói tại quốc gia này khiến hơn 36 triệu người thiệt mạng. Chính sách kinh tế của chế độ cộng sản ở Trung Quốc đã không cấp đủ nguồn lương thực cho hơn 900 triệu người. Đến năm 1978, đứng trên bờ vực sụp đổ, nhà cầm quyền buộc phải từ bỏ chế độ kiểm soát và bắt đầu cho phép tư nhân tự do sản xuất nông nghiệp.

Các công ty lớn từ đó ngày càng chiếm ưu thế trong việc sản xuất các loại thực phẩm phổ biến như thịt lợn và gia cầm. Nhưng ở một góc khác, một số hộ nông dân nhỏ lẻ đã quyết định chuyển sang săn bắt và nuôi động vật hoang dã để làm kế mưu sinh. Kể từ khi chuyện này bắt đầu và mang lại lợi ích cho một nhóm nhỏ nông dân, chính phủ Trung Quốc đã hậu thuẫn cho giải pháp đó. Nhưng đến năm 1988, chính phủ ban hành lệnh mới nhằm thay đổi mô hình kinh doanh động vật hoang dã. Cụ thể, họ đã ban hành Luật Bảo vệ Động vật hoang dã, liệt kê ra các loài động vật là tài nguyên sở hữu bởi nhà nước cần bảo vệ. Nhưng kèm đó, luật cũng khuyến khích thuần hóa và chăn nuôi động vật hoang dã. Từ đây, một ngành công nghiệp hẳn hoi đã ra đời.

Những trang trại nhỏ chuyển thành trang trại lớn với quy mô công nghiệp. Ví dụ, một trang trại gấu ban đầu chỉ có 3 con nhưng sau đó đã tăng lên đến hơn 1.000 con. Quần thể động vật càng lớn đồng nghĩa với việc khả năng một con vật bị nhiễm bệnh truyền từ loại khác càng cao hơn. Ngoài ra, những người chăn nuôi cũng sẽ nuôi cùng lúc nhiều loài hơn, cho phép nhiều chủng virus khác nhau có thể tồn tại trong cùng 1 môi trường. Vấn đề nảy sinh khi những con vật này bắt đầu được đưa vào những khu chợ như ở thành phố Vũ Hán để bán kiếm lời.

Ngành công nghiệp nuôi động vật hoang dã hợp pháp bắt đầu bùng nổ từ khi có luật mới, nhưng nó đồng thời tạo điều kiện cho sự ra đời của một ngành công nghiệp mua bán trái phép. Những động vật có nguy cơ tuyệt chủng như hổ, tê giác và tê tê bắt đầu được đưa vào Trung Quốc để tiêu thụ. Đến đầu những năm 2000, những khu chợ tươi sống bắt đầu trở nên nhộn nhịp và đa dạng hơn bao giờ hết. Năm 2003, dịch SARS bùng nổ, nguồn gốc của virus ngay lập tức bị truy tìm và sau cùng, các nhà khoa học tìm thấy dấu vết của virus trên cầy hương được nuôi.

Giới chức Trung Quốc ngay lập tức ra lệnh đóng cửa các khu chợ và cấm nuôi động vật hoang dã. Nhưng chỉ vài tháng sau khi dịch bệnh bùng phát, chính phủ Trung Quốc công bố danh sách 54 loài động vật hoang dã được phép nuôi một cách hợp pháp, trong đó có cả cầy hương.

Tính đến năm 2004, ngành công nghiệp chăn nuôi động vật hoang dã của quốc gia này trị giá khoảng 100 tỷ nhân dân tệ, to đến mức chính phủ Trung Quốc làm ngơ tất cả những rủi ro mà thị trường này mang lại, đặc biệt là sức khỏe của người dân trong suốt nhiều năm qua. Đến năm 2018, thị trường này trị giá 148 tỷ nhân dân tệ, đồng thời dẫn đến sự ra đời của các chiêu thức tiếp thị để thu hút khách hàng. Những sản phẩm làm từ động vật hoang dã được quảng cáo có thể tăng cường sức mạnh, kéo dài thời gian quan hệ và trị được nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Không một lợi ích nào như thế từng được chứng minh.

Tuy nhiên, những sản phẩm như thế lại được một bộ phận người rất quan tâm ở Trung Quốc. Hầu hết những người này bỏ ra số tiền rất lớn để sở hữu một hoặc nhiều con, không phải để ăn mà để phô trường quyền lực, sự giàu có. Điều đáng tiếc là chính phủ Trung Quốc lại quyết định chọn nhóm thiểu số này, thay vì làm mọi cách để bảo vệ sự an toàn cho toàn bộ người dân của họ. Ngay khi COVID-19 bùng nổ, Trung Quốc một lần nữa ban hành lệnh đóng cửa hàng ngàn chợ động vật như trên, tạm thời cấm buôn bán động vật hoang dã.

Các tổ chức trên khắp thế giới đã kêu gọi Trung Quốc thực hiện lệnh cấm vĩnh viễn, với sự lo ngại rằng họ sẽ lại tiếp tục mở cửa thị trường này như những gì đã làm nhiều năm trước. Trước phản ứng của cộng đồng, Trung Quốc được cho là đang sửa đổi Luật Bảo vệ Động vật hoang dã lại. Không cần biết nộ dung của bộ luật đó sẽ ra sao, nhưng nếu Trung Quốc không đưa vào đó lệnh cấm vĩnh viễn đối với việc chặn nuôi động vật hoang dã, một đại dịch như COVID-19 tiếp tục bùng nổ là điều không thể tránh khỏi.

Nguồn: Vox
Cover: Economist